logo


Cách đọc Unicode


Tiêu Đề Đề Mục

Những Nguyên Tắc Định Tiêu Đề Đề Mục
(Subject Headings)

Lê Ngọc Oánh, ML. GĐ Thư Viện Đại Học Mở-Bán Công

(Trích Bản Tin Điển Tử - Câu Lạc Bộ Thư Viện, số 5-1999)

Nguyên tắc định Tiêu đề Đề mục (Subject headings) là những hướng dẫn chung cho việc xác định cấu trúc của Tiêu đề Đề mục. Những nguyên tắc này là kết quả mới đây của một cuộc nghiên cứu khả thi do Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội và Định chế Thư viện (International Federation of Library Associations and Institutions = IFLA) thực hiện.

Có hai nhóm nguyên tắc định tiêu đề đề mục:

Chín nguyên tắc thiết lập (Construction Principles)

Hai nguyên tắc ứng dụng (Application Principles)

Các nguyên tắc thiết lập.

1. Nguyên tắc tiêu đề thống nhất (Uniform Heading Principle). Để tất cả tư liệu về một đề tài đặc biệt nào đó được tập trung nhằm truy cập nhanh chóng thì mỗi đề tài chỉ được biểu thị bởi một Tiêu đề Đề mục nhất định.

Ví dụ:

Ô tô

Tự động xa

Xe hơi

Chỉ duy nhất Ô tô là một đề mục hợp lệ.

Tương tự, có một sự tương quan giữa cơ thể sinh vật với môi trường sống của chúng gồm những sinh vật khác, có thể được biểu thị bởi những thuật ngữ khác nhau:

Cân bằng tự nhiên

Môi trường

Sinh học--Sinh thái

Sinh học môi trường

Sinh thái học

Trong số này chỉ có Sinh thái học là đề mục hợp lý.

Nguyên tắc này có sự liên quan mật thiết với nguyên tắc kế tiếp.

2. Nguyên tắc từ đồng nghĩa (Synonymy Principle). Để tập hợp tất cả tư liệu theo một chủ đề và để tăng khả năng truy cập của một Ngôn ngữ tiêu đề đề mục (Subject Heading Language), các từ đồng nghĩa phải được kiểm soát trong Ngôn ngữ tiêu đề đề mục.

Để kiểm soát từ đồng nghĩa, các từ đồng nghĩa và các dạng khác nhau của cùng một tiêu đề phải được bao gồm trong Khung đề mục như là những từ vựng dẫn mục, nghĩa là như những từ tham chiếu. Ví dụ:

Ô tô

Được dùng cho (UF: used for)

Tự động xa

Xe hơi

Sinh thái học

Được dùng cho (UF: used for)

Cân bằng tự nhiên

Môi trường

Sinh học--Sinh thái

Sinh học môi trường

Theo Cutter, một nhà thư viện học, có những quy tắc sau đây để giúp ta khi phải chọn lựa một đề mục trong số nhiều từ đồng nghĩa:

Chọn từ quen thuộc nhất với độc giả.

Chọn từ được dùng nhiều nhất trong các mục lục khác.

Chọn từ có ít nghĩa khác với nghĩa đang sử dụng nhất.

Chọn từ có khả năng tập hợp các đề tài liên hệ.

Ví dụ trong các từ:

Bác sĩ

Đông y sĩ

Lương y

Thầy thuốc

Y sĩ

Nên chọn Y sĩ vì từ này vừa đúng nhất lại đã trở nên quen thuộc và có khả năng tập hợp các đề tài liên hệ: Y cụ, Y khoa, Y sĩ đoàn, Y tá.

Ví dụ khác

Thuế

Thuế khóa

Thuế má

Thuế vụ

Nên chọn Thuế, từ này có thể ghép thêm để cho ta: Thuế gián thâu, Thuế nhập khẩu, Thuế thu nhập, Thuế trị giá gia tăng, Thuế trực thâu, Thuế xuất khẩu.

3. Nguyên tắc đồng âm dị nghĩa (Homonym Principle). Để ngăn ngừa việc truy cập các tư liệu không liên quan và để gia tăng độ chính xác của Ngôn ngữ tiêu đề đề mục, các từ đồng âm phải được kiểm soát trong Ngôn ngữ tiêu đề đề mục.

Để đảm bảo sự chính xác và để giảm thiểu sự sai lầm trong việc truy cập đề tài, mỗi một tiêu đề chỉ tiêu biểu cho một đề tài duy nhất, nó không thể dùng cho hai hay nhiều đề tài. Các từ có cách viết giống nhau nhưng có nhiều ý nghĩa khác nhau như thường thấy trong trường hợp khi có nhiều môn học hay lãnh vực kiến thức khác nhau liên quan tới phải được làm rõ nghĩa bằng những từ bổ nghĩa trong ngoặc ( ), chẳng hạn như:

Hồng (Hoa)

Hồng (Màu)

Hồng (Quả)

4. Nguyên tắc hệ biến từ với các loại tham chiếu (Paradigmatic Principle with Cross-References). Để biểu thị cấu trúc hệ biến từ của một ngôn ngữ tiêu đề đề mục, các tiêu đề đề mục phải được nối kết với nhau bằng những quan hệ tương đương, phân cấp và liên kết qua các loại tham chiếu.

Quan hệ tương đương (Equivalence Relationships). Các từ tương đương này gồm các từ đồng nghĩa theo thứ tự thông thường hay đảo nghịch các cách viết khác nhau nhất là đối với các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga. (gồm các dạng số ít và số nhiều, các hậu tố khác nhau, các tiêu đề đã thay đổi hay hủy bỏ, các chữ viết tắt và chữ ghép, các cụm từ theo thứ tự khác nhau, và đôi khi các từ trái nghĩa mà nó thường được nói đến cùng trong tác phẩm). Ví dụ:

Doanh nghiệp, Tình báo

Được dùng cho (UF: used for)

Công nghiệp, Điệp viên

Công ty, Tình báo

Doanh nghiệp, Điệp viên

Điệp viên công nghiệp

Điệp viên doanh nghiệp

Tình báo công ty

Tình báo doanh nghiệp

Để đảm bảo rằng người sử dụng bất ngờ tra mục lục dưới nhiều tên khác nhau (hoặc dưới nhiều dạng khác nhau của tên) của một đề tài cho sẵn sẽ có thể định vị được tài liệu về đề tài đó, tham chiếu "xem" được cung cấp để dẫn họ từ danh từ mà họ đang tra cứu tới tiêu đề có thẩm quyền trong câu hỏi. Những tham chiếu này dẫn người sử dụng từ những từ ngữ không được sử dụng như các tiêu đề đến các tiêu đề có thẩm quyền. Ví dụ:

Lương y

Xem

Y sĩ

Quan hệ phân cấp (Hierachical Relationships). Tham chiếu phân cấp chỉ ra những đề tài mà phạm vi rộng hơn hay hẹp hơn đề tài trong câu hỏi.Ví dụ:

Ô tô

Từ hẹp hơn (NT: narrower term)

BMV, Ô tô

Chrysler, Ô tô

Ford, Ô tô

Mercedes, Ô tô

Renault, Ô tô

Rolls-Royce, Ô tô

Thể thao, Ô tô

Toyota, Ô tô

Từ rộng hơn (BT: broader term)

Động cơ, xe

Vận chuyển, xe

Quan hệ liên kết (Associative Relationships). Tham chiếu liên kết được dùng để nối những tiêu đề mà nó có quan hệ về ý niệm chứ không phải về hệ cấp. Những tham chiếu như vậy thường được thực hiện cho những loại tiêu đề sau đây:

Những tiêu đề mà ý nghĩa của nó bao trùm một phạm vi nào đó.

Giáo dục

Từ liên hệ (RT: related term)

Giảng dạy

Học sinh

Trường học

Những tiêu đề tiêu biểu một môn học và đối tượng được nghiên cứu

Y sĩ

Từ liên hệ (RT: related term)

Y khoa

Những tiêu đề tiêu biểu cho người và lãnh vực hoạt động của người đó

Thư viện

Từ liên hệ (RT: related term) ả

Thủ thư

5. Nguyên tắc cú pháp - Nguyên tắc chính xác (Syntax Principle - Specific or Direct Entry Principle). Để biểu thị những đề tài kép và phức hợp, cú pháp của một ngôn ngữ tiêu đề đề mục phải kết nối những phân mục của một tiêu đề đề mục làm bằng mối liên kết về cú pháp hơn là các mối liên hệ về ngữ nghĩa.Ví dụ:

Mục lục trực tuyến--Truy cập chủ đề

Tiến hóa--Nghiên cứu--Anh quốc--Luân Đôn--Lịch sử--Thế kỹ 19

Hoa kỳ--Lịch sử--Nội chiến, 1861-1865--Hành quân trên biển--Tàu ngầm

Dầu hỏa--Công nghiệp và thương mại--Việt nam

Tuy nhiên nội dung của từ ngữ phải phản ảnh thật sát đề tài, không rộng hơn mà cũng không hẹp hơn. Nói tóm lại tiêu đề phải diễn tả thật đúng đề tài của tư liệu, cho nên đôi khi phân mục phản ánh mức độ phân cấp là không cần thiết. Chẳng hạn như.

Không dùng:

Mục lục--Mục lục thư viện--Mục lục trực tuyến

Nên dùng:

Mục lục trực tuyến

6. Nguyên tắc ổn định (Consistency Principle). Để hoàn thành và duy trì tính cách ổn định, mỗi một tiêu đề đề mục mới được chấp nhận vào một ngôn ngữ tiêu đề đề mục phải tương tự về hình thức và cấu trúc vớI các tiêu đề đề mục đã có sẵn trong ngôn ngữ đó và có thể so sánh được.

Bất cứ chỗ nào có thể được người ta cố gắng duy trì tính cách ổn định về hình thức và cấu trúc trong số những tiêu đề tương tự qua việc sử dụng một mô thức được lặp đi lặp lại, chẳng hạn những tiêu đề sau đây tiêu biểu cho tác dụng của các tác nhân khác nhau đối với thảo mộc được thiết lập dưới cùng một hình thức

Thực vật, Tác dụng của ánh sáng đối với

Thực vật, Tác dụng của axít đối với

Thực vật, Tác dụng của hóa chất dùng trong nông nghiệp đối với

Thực vật, Tác dụng của khí nóng đối với

Thực vật, Tác dụng của lũ lụt đối với

Thực vật, Tác dụng của ô nhiễm không khí đối với

Thực vật, Tác dụng của rượu đối với

Thực vật, Tác dụng của sự kết tủa axít đối với

Thực vật, Tác dụng của tầng ô-dôn đối với

7. Nguyên tắc tên gọi (Naming Principle). Để làm dễ dàng cho việc truy cập trọn vẹn thì các tên người, nơi chốn, gia đình, đoàn thể và các tác phẩm khi được dùng trong một ngôn ngữ tiêu đề đề mục, mục lục, thư mục hay sách chỉ mục (Index) nào đó phải được thiết lập theo những qui tắc được dùng cho các mục từ tác giả và nhan đề trong mục lục, thư mục và sách chỉ mục đó.

Thuộc tính tên gọi. Danh từ riêng (tên gọi riêng) được chọn như tiêu đề đề mục có thể mượn ở Tập tin thẩm quyền về tên gọi hay được thiết lập trong tập tin thẩm quyền về đề mục.

Tên gọi được mượn từ Tập tin thẩm quyền về tên gọi (Name Authority File). Ngoài một vài biệt lệ, tên gọi của người, đoàn thể, nơi chốn và những mục từ khác có thể được mượn từ Tập tin có thẩm quyền về tên gọi (đó là cơ sỡ dữ liệu đọc được bằng máy gồm những tiêu đề và tham chiếu cho tên người, tên đoàn thể và các nhan đề đồng nhất) để sử dụng như những tiêu đề đề mục cho các tác phẩm về những đề tài này. Hình thức của những tiêu đề như vậy được dựa trên bộ Anglo - American Cataloguing Rules (Qui tắc Biên mục khối Anh Mỹ) ấn bản lần thứ hai năm 1988 (AACR2), chẳng hạn:

Hồ Chí Minh, 1890-1969--Thời thơ ấu và thanh niên

Hồ Chí Minh, 1890-1969--Du hành--Liên xô

Hồ Chí Minh, Thành phố (Việt Nam)

Hà Nội (Việt Nam)--Điều kiện kinh tế--Thống kê

Tên gọi được thiết lập trong Tập tin có thẩm quyền về đề mục (Subject Authority File). Các tiêu đề về những tên gọi riêng không có trong Tập tin có thẩm quyền về tên gọi thì được thiết lập trong Tập tin có thẩm quyền về đề mục. Những tên gọi như vậy thì gồm có những tên địa dư không thuộc thẩm quyền tài phán; tên các tòa nhà, các công trình kiến trúc,...; tên của các nhân vật truyền kỳ và tiểu thuyết; tên của các dòng họ, các triều đại, các tòa nhà hoàng gia,...; tên các tác phẩm nghệ thuật; tên các mục từ khác, chẳng hạn như là các biến cố lịch sử, các cuộc trắc nghiệm tâm lý, các giải thưởng, các sản phẩm, các trò chơi, các bộ lạc, các nhóm dân tộc và sắc tộc. Bất cứ chỗ nào có thể được và thích hợp, người ta cố gắng thiết lập những tiêu đề cho mục từ tên gọi khác dưới hình thức có thể so sánh với tiêu đề của bộ AACR2. Ví dụ:

Ấp Bia, Núi (Việt Nam)

Brooklyn, Cầu (New York, N.Y.)

Tây Hồ (Việt Nam)

Waterloo, Trận đánh, 1815

8. Nguyên tắc bảo toàn văn phong (Literary Warrant Principle). Để phản ánh nội dung đề tài của các tài liệu, từ vựng của một ngôn ngữ tiêu đề đề mục phải được triển khai một cách năng động, dựa trên thẩm quyền về văn từ và hội nhập một cách hệ thống với từ vựng hiện tại.

Nên chọn từ ngữ do các tác giả có thẩm quyền sử dụng. Nếu không có sự đồng ý giữa các tác giả thì nên chọn từ ngữ nào được họ sử dụng nhiều nhất. Ngoài ra đừng chọn từ ngữ từ một cuốn từ điển mà nên chọn từ ngữ sử dụng trong các tạp chí chuyên ngành.

9. Nguyên tắc người sử dụng User Principle). Để nắm bắt được nhu cầu của người dùng, vốn từ của ngôn ngữ tiêu đề đề mục phải có chọn lọc để phản ánh được nhu cầu, thị hiếu của độc giả.

Đề mục phải được chọn từ những từ ngữ đang được sử dụng. Nói cách khác, những từ ngữ lỗi thời phải bị hủy bỏ. Ví dụ:

Không dùng: Vạn vật học

Nên dùng: Sinh học

Đề mục phải được chọn thế nào cho phù hợp với trình độ của độc giả. Do đó, thư viện trường học hoặc công cộng có thể dùng đề mục có tính cách phổ thông, trái lại thư viện đại học hoặc chuyên ngành có thể dùng các từ ngữ chuyên môn hoặc thông thái làm đề mục. Ví dụ:

Thư viện công cộng dùng đề mục: Ốc (Sinh vật)

Thư viện chuyên ngành dùng đề mục: Nhuyển thể

Các nguyên tắc ứng dụng.

1. Nguyên tắc về chính sách chỉ mục đề mục (Subject Indexing Policy Principle). Để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và khiến cho việc nghiên cứu tài liệu được ổn định, chính sách chỉ mục hướng dẫn về phép phân tích và trình bày đề mục phải được khai triển.

Kể từ năm 1984, Thư viện Quốc hội Hoa kỳ đã cung ứng sự hướng dẫn về phép phân tích và trình bày đề mục qua ấn phẩm Subject Cataloguing Manual: Subject Headings (Cẩm nang biên mục đề mục: Tiêu đề đề mục).

2. Nguyên tắc tiêu đề chính xác (Specific Heading Principle). Để gia tăng độ chính xác của một ngôn ngữ tiêu đề đề mục, một tiêu đề đề mục hay một bộ tiêu đề đề mục phải bao gồm nội dung của đề tài mà nó đem ứng dụng. Tuy nhiên, để ngăn ngừa sự truy cập quá ít hay quá nhiều, mức độ bao hàm của những tiêu đề được ấn định phải được điều chỉnh dựa vào khuôn khổ của tập tin và khuynh hướng của đề mục trong việc phát triển sưu tập.

Tiêu đề tiêu biểu chính xác cho nội dung của tác phẩm được ấn định như là tiêu đề tiên khởi, trừ phi một tiêu đề không hiện hữu hoặc không thể thiếp lập. Trước sự khiếm khuyết của một tiêu đề bao hàm, một tiêu đề rộng hơn hay tổng quát hơn, nội dung của tác phẫm có thể được ứng dụng. Trong trường hợp này, tiêu đề rộng hơn hay rổng quát hơn này là tiêu đề có thẩm quyền chính xác nhất trong hệ cấp nó bao gồm nội dung của tác phẩm. Trong một vài trường hợp, nhiều tiêu đề liên hệ có thể được chỉ định. Ví dụ:

Nhan đề: Pháp luật và giao thông đường bộ

Đề mục:
1. Giao thông, Luật--Việt Nam

Nhan đề: Lịch sử sách và thư viện

Đề mục:
1. Thư viện--Việt Nam--Lịch sử
2. Sách--Việt Nam--Lịch sử

Kết luận.

Thế giới hiển nhiên ngày càng thu hẹp hơn và sự liên kết giữa các thư viện và những cơ quan thông tin trên toàn thế giới được thực hiện một cách nhanh chóng đã trở thành hiện thực. Điều này rất quan trọng và thuận lợi cho việc thiết lập những tiêu chuẩn và cách thức chung đưa đến sự hợp tác quốc tế càng thêm hoàn thiện cũng như sự trao đổi thông tin được thực hiện một cánh dễ dàng hơn. Những nguyên tắc IFLA đang từng bước thực hiện được điều đó.

Tham khảo.

1.CHAN, LOIS MAI. IFLA Principles for Subject Headings - Tài liệu phân phối tại Hội thảo thư viện "Phân loại và Tiêu đề Đề mục - Classification and Subject Headings" do The United Board Christian Higher Education In Asia, Harvard-Yenching Institute, và Simmons College Graduate School of Library and Information Science kết hợp với Thư viện Quốc gia Việt nam tổ chức tại Khách sạn Tây Hồ, Hà nội từ 16.4.1997 đến 19.4.1997.

2.CHAN, LOIS MAI. Library of Congress Subject Headings: Principle and Application.- 3rd Edition.- Englewood, Colorado: Libraries Unlimited, Inc., 1995.

3.CHAN, LOIS MAI. Cataloging and Classification: An Introduction.- New York: McGraw-Hill, Inc., 1994.

Trỡ về đầu trang